Cuộc viếng thăm bất ngờ của một hạm đội…

Posted: April 30, 2013 in Nghị

Huỳnh Văn Ba – Exryu USA  (*)

“An eye for an eye only ends up making the whole world blind“

Gandhi 

Ngày 1  tháng 8 năm 1886, tức Meiji năm thứ 19, bốn chiến hạm Thanh Quốc sau khi thao diễn ở Bắc Dương trên đường từ  Vladivostok- Nga về xứ đột nhiên muốn xin ghé vào cảng Nagasaki  lấy lý do là cần để sửa chữa – nhưng thực ra là để “show-of-force” (thị uy) Nhật Bản.

Bắc Dương Hạm đội được Lý Hồng Chương (李 鴻章 ) – một đại thần nhà Thanh thành lập để đối kháng với Nga và Nhật (2 địch quốc giả tưởng). Chỉ huy hạm đội là đề đốc Đinh Nhữ Xương (丁汝昌).

Bốn chiến hạm nầy là Định Viễn (kỳ hạm), Trấn Viễn, Tế Viễn và Uy Viễn do Đức Quốc đóng cho năm 1881. Hai chiếc đầu là loại thiết giáp hạm, cả 2 đều có khối bài thủy khoảng 7300  tấn. Hai chiếc còn lại là tàu hộ tống. So với chiến hạm của Nhật Bản lúc bấy giờ – thường chỉ đạt đến 2-3 ngàn tấn, Thanh hạm quả  là “Đông Dương đệ nhất kiên hạm” hay là anh khổng lồ dưới nước của Á Đông cuối thế kỷ thứ 19.

Lúc bấy giờ Nagasaki liên tục được tàu Anh, Nga và Thanh (TQ) ghé bến, việc bắn đại bác để chào đón tàu bạn làm dân chúng điếc tai. Họ chưa quen với cách sống của thời đại mới nầy. Nhưng nếu là một cuộc thăm viếng hữu nghị thì phải tìm cách làm quen thôi.

Cờ của Bắc Dương Hạm đội

Ngày 13 tháng 8, tuy không có xin giấy phép 500 thủy thủ Thanh quốc đột nhiên lên bờ. Họ tìm chỗ ăn nhậu rồi phá hoại thiết bị trên phố, xong đi ăn cướp, rượt bắt đàn bà con gái như một đám thổ phỉ. Trong đó có bọn vừa mua vừa đoạt  đồ cổ Nhật như đao kiếm gây ra rối loạn. Khi cảnh sát can thiệp thì họ đánh cả cảnh sát sau đó nhà cầm quyền phải tăng cường nhân lực để bắt giam kẻ phạm tội. Cuộc giao chiến nầy làm cho 80 người chết và bị thương hai bên. Sự mua giấu đao kiếm có sự giúp tay của thương nhân người Thanh địa phương làm cho dân Nhật lo thấp thỏm .

Ngày 14 tri sự (thị trưởng) thành phố Nagasaki đến gặp lãnh sự nhà Thanh yêu cầu họ kềm chế thủy thủ của họ. Phía nhà Thanh đồng ý và cam kết là về sau khi cho lính  lên phố họ sẽ phái theo sĩ quan để quản đốc. Nhưng trái với sự cam kết ngày hôm sau 300 lính thủy lại xông lên bờ  đứng đái trước bót (koban) cảnh sát. Khi bị khiển trách thì họ đánh cảnh sát ngay. Người  lao động kéo xe thấy bất bình ra tay can thiệp cũng bị đám lính Thanh hành hung. Dân Nhật tức giận có người dùng gạch đá ném bọn côn đồ.  Cuộc xung đột lan ra cả phố Nagasaki làm cho nhiều người mất mạng.

Sau khi trấn áp mọi sự tri sự thành phố Nagasaki yêu cầu chính phủ Thanh Quốc xin lỗi và bồi thường. Họ hứa là sẽ điều tra trong khi đó Lý Hồng Chương gặp công sứ Nhật Bản ở Thiên Tân vừa khiển trách vừa trấn an. Trong nước nhóm quá khích đòi trừng phạt Nhật Bản bằng quân sự.

Nếu ta có dịp xem  bộ phim “Saka no ue no kumo” (坂の上の雲) dựa theo tiểu thuyết khảo chứng lịch sử của Shiba Ryotaro (司馬遼太郎) do đài NHK chế tác 3 năm trước đây, chắc có người còn nhớ thái độ ngạo mạn của Lý Hồng Chương đối với sứ giả Nhật gởi sang để cầu hòa trước chiến tranh Thanh Nhật.

Về sau người Nhật gọi cuộc viếng thăm bất ngờ của hạm đội Bắc Dương là “Nagasaki Jiken” (長崎事件Nagasaki  Incident) .

Sự kiện nầy tạo ra một mối ác cảm trong dân Nhật đối với người Tàu. Chính nó cùng với cuộc chính biến Giáp Thân (1) đã làm cơ nhân tốt cho nhóm chính khách “Genyosha”(玄洋社) đổi hướng từ “Dân quyền luận” sang “Quốc quyền luận” đưa đến con đường quân bị cho Đế Quốc Nhật về sau.

Thái độ ngạo mạn của nhà Thanh chẳng qua là do định kiến sẵn có về người Nhật xưa nay và họ muốn bắt chước Hoa Kỳ dùng “tàu lớn” (2) để làm nhục Nhật Bản. Về phía chính quyền Meiji lúc bấy giờ Ito Hirobumi (伊藤博文)  là thủ tướng của nội các. Là người có mắt nhìn xa, Ito muốn tránh  chiến tranh bằng mọi cách  trong lúc nầy. Cho nên chuyện  xảy ra ở Nagasaki được ông tìm cách giải quyết một cách ổn thỏa dù rằng Nhật phải chấp nhận sự yêu cầu của nhà Thanh là cấm cảnh sát Nhật mang kiếm và bỏ ra nhiều tiền hơn nhà Thanh để cứu tế người đã bị thương và mất mạng (lý do là bên Thanh Quốc số thiệt mạng nhiều hơn) (3).

Hậu quả của hai biến cố

Như nói phía trên, năm 1884 nhóm duy tân thân Nhật của chánh phủ Triều Tiên  làm đảo chánh rồi bị quân Thanh dập tắt, họ phải chạy sang Nhật để tránh nạn, trong đó có người chủ chốt là Kim Ngọc Quân (金 玉均).

Khi biết nhà Thanh và Triều Tiên làm áp lực với Nhật Bản đòi giao trả chính khách nầy. Cùng lúc đó họ gửi điệp viên vào Nhật tìm cách ám sát. Vì biết Thanh hạm đang thao diễn ở ngoài biển Triều Tiên, để tránh xung đột chính phủ Nhật đưa Kim Ngọc Quân ra đảo Ogasawara (小笠原) , sau đó sang Thượng Hải – nơi đây ông bị điệp viên giết chết. Điều nầy cho thấy là Nhật Bản lúc đó rất sợ sự huy hiếp của Thanh hạm và họ tìm mọi cách để khỏi  đụng đầu với nhà Thanh.

Năm 1885 sau biến cố Giáp Thân Nhật và Thanh ký điều ước Thiên Tân (天津) .  Để tránh xung đột hai bên đồng ý rút quân ra khỏi Triều Tiên. Nhưng phía sau nhà Thanh vẫn có âm mưu áp đảo Triều Tiên và cố ý làm giảm ảnh hưởng của Nhật Bản. Điều nầy làm cho nhóm quân nhân Nhật hoài nghi.

Sự huy hiếp của “tàu lớn” Hoa Kỳ đã làm cho nhà Edo chấm dứt và bù lại một chế độ mới “duy tân” được bắt đầu. Sự huy hiếp của Thanh hạm một lần nữa thúc đẩy sĩ phu Nhật Bản đứng lên quật khởi. Họ hối hả cải cách đất nước làm cho quốc gia nầy tân tiến hùng mạnh để đương đầu với ngoại xâm.

Không giống như nước ta Nhật không muốn nhờ ngoại bang nào đến giúp tay, vì họ biết rằng khi nhờ thì rồi phải mắc ơn, và chưa chắc người “anh em” đến giúp sẽ không lợi dụng họ để phục vụ cho quyền lợi riêng tư. Rất may lúc bấy giờ Nhật Bản có nhiều nhà tư tưởng lớn nên họ không cần phải học ở đâu xa, trong đó có Fukuzawa Yukichi (福沢諭吉)  (4) đã mở ra con đường khai hóa dẫn dắt họ đến phương trời sáng lạng.

Đến 1894 tức Meijin năm thứ 27 bước tiến duy tân đã mang đến nhiều kết quả tốt. Đây là lúc tinh thần tự hào của dân Nhật dâng tràn. Người Nhật đang mơ và ngỡ ngàng như người thanh niên mới lớn ngước nhìn những vần mây bay qua trên đỉnh đồi (坂の上の雲・Saka no ue no kumo). Họ có nhiều mơ ước cho tương lai đất nước.

Tháng 2 năm đó bên kia bờ biển trong nước Triều Tiên một số nông dân nổi dậy chống lại chính phủ vì họ không chịu nỗi sưu cao thuế nặng và tham ô của quan chức. Phía sau họ có sự ủng hộ của phái Đông Học, cuộc nổi loạn được lan rộng ra cả nước. Nhà Thanh lập tức phái binh sang  “cứu viện”.

Theo điều ước Thiên Tân trước đây thì Thanh Nhật không được đơn phương phái binh sang Triều Tiên. Sự độc chiếm của Thanh quân làm cho thủ tướng Ito và nhóm quân nhân phẩn nộ. Nó đưa đến quyết định là cần phải phái binh sang bán đảo Triều Tiên để bảo vệ công quán và kiều dân Nhật. Đây là chất xúc tác cho cuộc leo thang chiến tranh.

Sau khi cuộc nổi loạn được trấn áp, Triều Tiên yêu cầu Thanh Nhật rút binh. Thanh Triều từ chối và đòi Nhật rút binh đơn phương. Quân đội Nhật mới gây áp lực với Triều Tiên đòi Thanh quốc rút binh trước vì họ đã xâm phạm đến nền độc lập của quốc gia, đồng thời khuyến khích họ phế bỏ điều ước “chủ và chư hầu” với Thanh  quốc. Trong năm đó Đại Viện Quân (大院君) đứng ra đảo chánh rồi đưa Kim Hoằng Tập (金 弘集) lên ngôi, họ muốn đi theo con đường duy tân của Nhật Bản. Nhà Kim sau đó nhờ quân Nhật tảo thanh quân Thanh ở Nha Sơn (牙山), xung đột giữa 2 bên xảy ra kế đó trong vịnh Phong Đảo (豊島) và Thành Hoan (成歓). Ngày 1 tháng 8 cùng năm Thanh Nhật tuyên chiến với nhau. Thế là chiến tranh chính thức bắt đầu giữa 2 kẻ thù.

Quân Nhật tấn công quân Thanh

Sự tuyên chiến với nhà Thanh đã giúp dân Nhật đoàn kết. Nó kích động lòng ái quốc của một đảo quốc, xóa bỏ sự nghi kỵ còn lại của phiên bang sau thời Edo. Bây giờ cả nước đều là một quốc dân của nước Nhật mới văn minh hùng cường.

Thắng bại của chiến tranh

Như chúng ta đều biết ai là kẻ chiến thắng trong cuộc chiến giữa Thanh Nhật nầy. Thay gì đi sâu vào chi tiết của nó tôi chỉ muốn ôn lại một số điểm chánh để cùng suy nghĩ.

Cán cân quân lực

Về quân lực nói chung lục lẫn hải quân của Nhật lúc bấy giờ đã theo sát mô hình tổ chức của Tây phương. Tuy không có đại chiến hạm bọc sắt như  tàu Thanh quốc, họ có nhiều trang bị tối tân, học hỏi chiến lược mới về chiến tranh của Đức và Pháp, nghiên cứu trận địa kỹ càng, tinh thần chiến đấu của quan và binh hùng dũng như  samurai Miyamoto Musashi.

Ngược lại quân đội Thanh còn giữ nhiều truyền thống xưa, trong đó có cái rất cổ hủ. Nhà Thanh lúc bấy giờ chưa có thành lập một quân đội quốc gia, binh lính kết hợp từ nghĩa quân của sắc tộc khác nhau như Hán, Mãn, Mông và Hồi và không tin cậy lẫn nhau. Quân nhân Thanh không có quân phục đầy đủ thống nhất, đầu còn thắt bím trong khi lính Nhật đã cắt tóc “chôn-ma-gê” từ lâu. Trên tàu Thanh còn để bàn thờ. Khi đại tá Togo Heihachiro (東郷 平八郎) (5) thị sát quân hạm Định Viễn trong chuyến viếng thăm hữu nghị (1891) thấy quân Thanh ngồi bẹp dưới hầm tàu cờ bạc, ăn nói bừa bãi, quần áo phơi trên lan can tàu, rác bỏ trong nồng đại bác ông nói với phụ tá là thiếu úy Akiyama Saneyuki (秋山真之 ・danh tướng về saungụ ý rằng: “quân kỷ như thế nầy thì dù có đại chiến hạm cũng là đồ chơi thừa thôi…” (6).

Lũng đoạn và tham nhũng

Sau khi Lý Hồng Chương xây dựng quân đội và hạm đội Bắc Dương, triều đình Thanh bắt đầu xuống dốc. Từ Hi Thái Hậu chỉ lo việc cải tạo Vi Hòa Viên để hưởng thụ làm cho ngân khố quốc gia khô cạn.

Sự thiếu kỷ luật và tham nhũng từ trên xuống dưới đã làm hao mòn một hạm đội oai hùng. Người ta đã thấy sĩ quan ăn cắp thuốc súng đem bán và thế vào đó bằng bột coca. Ngay cả đại bác của chiến hạm Định Viễn cũng bị đem ra cầm đồ. Nhiều hạm trưởng dùng nha phiến. Khi hải quân Nhật tiếp cận đa số quân sĩ Bắc Dương Hạm Đội bỏ trốn.

Một yếu tố khác cống hiến vào sự thắng lợi của quân đội Nhật là: tuy không có “cự hạm” như quân Thanh, Nhật có một công nghiệp hậu cần hùng hậu tân tiến. Đến khi chiến tranh xảy ra Nhật Bản đã có nhiều nhà máy chế thép theo duyên hải, họ cũng đã tự đóng nhiều chiến hạm nhỏ, tự chế thuốc nổ năng lượng cao. Khi cần sửa chữa Nhật có thể thực hiện nhanh chóng trong khi đó tham nhũng đã làm lũng đoạn hệ thống hỗ trợ của quân Thanh. Vì thế nhiều chiến hạm bị hư rồi không được sửa  phải bỏ đi. Ngay cả danh hạm Trấn Viễn rồi cũng nằm chờ cho hải quân Nhật tiếp thu mang về dùng sau chiến tranh.

Sĩ quan Thanh Quốc đầu hàng sĩ quan Nhật

Khi cuộc chiến kết thúc với sự toàn diệt của hạm đội Bắc Dương và sự tự quyết của đề đốc Đinh Nhữ Xương (bằng “overdose” nha phiến), nhà Thanh bắt buộc phải cầu hòa với Nhật và đồng ý bồi thường chiến tranh tới 13,600 tấn bạc – tương đương với 6.4  lần tiền thu nhập của chánh phủ Nhật Bản. Với số tiền nầy Nhật có đủ để tân trang cho hải quân và hiện đại hóa kỷ nghệ đất nước. Nó là nguồn năng lực tiềm tàng cho thế hệ Meiji trẻ một lần nữa đoạt được chiến thắng trong cuộc tranh hùng trên Thái Bình Dương với hạm đội Baltic Nga 10 năm sau (1904-1905).

Một Thế hệ vĩ đại

Khi ôn lại tích xưa ta thấy lich sử thường được lập đi lập lại, và có thể đoán được cái thắng cái bại bằng cách dựa vào đó.

Chiến thắng của Nhật Bản đối với Thanh quốc cho thấy tính dũng cảm cũng như sự thông minh của người Nhật. Thủ tướng Ito Hirobumi  đã bao lần đắn đo giữa chiến với hòa. Ông biết chờ đến lúc chín muồi cho hành động. Người lãnh đạo đất nước có kế hoạch tinh tế kiên trì để đoạt được thắng lợi về tay mình. Trong khi đó nhà Thanh chỉ ỷ vào sức mạnh.

Sau khi thắng trận người Nhật không ngây thơ cứ nằm mơ với thành quả của mình. Họ biết kẻ thù còn nhiều và có nhiều âm mưu để gỡ lại. Sự kiến tạo một đất nước có nền kỷ thuật và văn hóa cao là điều tối cần thiết. Rất may nước Nhật có được một thế hệ không vị kỷ đã đưa đẩy đất nước họ đến chỗ huy hoàng. Nếu như bên xứ Mỹ có được một “Great generation” (Thế hệ vĩ đại) theo nhà báo Tom Brokaw nói, thì theo tôi thế hệ của Meiji 20-40 cũng phải là “the Great generation” của Nhật Bản vậy!

Minh Trị duy tân là một cuộc cách mạng về chính trị, xã hội, văn hóa, khoa học và kỷ thuật. Nó do người trí thức Nhật làm ra cho người Nhật, vì thế có tính chất rất là “dân tộc”. Không giống như nhiều cuộc cách mạng vay mượn ở ngoại bang “xa xôi”, cách mạng Minh Trị có ngôn từ dễ hiểu, không ngộng ngạo tối nghĩa, vì thế người bình dân Nhật từ Bắc chí Nam đều chấp nhận nó. Có lẽ vì thế xưa kia chí sĩ Phan Bội Châu cũng muốn học được cách duy tân như thế nầy để áp dụng cho nước Nam ta chăng?

Đã quên bài học xưa?

Một trăm hai mươi năm sau sự kiện Nagasaki, ngày 28 tháng 11, 2007 khu trục hạm tên lửa “Shenzhen” (Thâm Quyến 深圳- 6200 tấn) của TQ xin ghé vào cảng Harumi (晴海), Tokyo để làm một chuyến thăm viếng  thân hữu.

Harumi là một thương cảng phồn hoa, nơi đây hoàn toàn vắng mặt chiến hạm Nhật vì đa số họ cặp bến ở quân cảng chia sẻ với Đệ Thất Hạm Đội Mỹ như Yokosuka (横須賀) gần Yokohama (横浜) . Ngày nay hải quân Nhật chỉ hiện diện cho sự tự vệ. Việc phòng thủ lớn có Hoa Kỳ phía sau bảo đảm. Có lẽ vì lý do đó quân hạm Trung Cộng không được mời vào 1 quân cảng.

Chiến hạm “Shenzhen” hoàn toàn do TQ thiết kế và chế tạo – nó là một niềm tự hào của người Hoa. Trong lần thăm viếng nầy hạm trưởng Tiếu Tân Niên (肖新年) đã mỡ cầu tàu để đón chờ quan khách đến tham quan, trong đó có nhiều nhà báo. Ông cho thấy sự phóng khoáng ít có của người TQ xưa nay và lúc nào cũng nhấn mạnh đến yếu tố hữu nghị giữa hai nước Hoa Nhật.

Sau 120 năm người Nhật và người Hoa còn nhớ gì đã xảy ra ở Nagasaki không?  Cuộc viếng thăm của chiến hạm TQ trong thời đại mới không để lại một dư âm xấu. Nhưng tiếc thay, những chuyến thăm hữu nghị như thế không phản ảnh được mọi khía cạnh của tình hình chính trị giữa 2 quốc gia.

Bốn thập niên sau khi Nhật Bản bắt lại mối ngoại giao và ký hòa ước với TQ, Nhật đã đóng góp rất nhiều tài chính, kinh nghiệm và kỹ thuật cho sự tái kiến nền kinh tế bị đình trệ trong giai đoạn cách mạng văn hóa vô sản “chaos” (hỗn mang). Nhờ đó nước Trung Quốc có được nhiều phát triển tốt đẹp.

Những lúc gần đây chỉ qua một số sự kiện nhỏ không đồng ý kiến giữa 2 nước ngoài biển, một số doanh nghiệp của Nhật ở TQ bị tấn công, hàng mang logo made-in Japan bị thiêu hủy, ngay như con chó “Akita” vô tội cũng bị đập chết. Hành động thiếu văn hóa nầy của người Trung Cộng  (7) một lần nữa gợi lại giấc ác mộng xưa trong đầu người Nhật. Chắc họ phải có lần tự hỏi: “chugokujin wa shinyo dekiru ka?” (có nên tin vào người Tàu không?).

Như chúng ta đều biết thế giới  văn minh bây giờ đã được đa nguyên hóa về mọi mặt. Muốn được chấp nhận vào cộng đồng của thế giới thì mọi người phải biết tôn trọng nguyên tắc đó bằng cách tôn trọng lẫn nhau.

Ngày nay người TQ đi ra sinh sống khắp nơi trên thế giới, ngay cả trên đất Nhật hay Hoa Kỳ. Nơi đây họ chưa bao giờ bị bạc đãi vì một chính kiến hay tôn giáo khác nhau (8). Trí thức TQ nghĩ gì khi dân họ đốt phá “business” của nước bạn? Nếu họ tiếp tục làm ngơ thì rồi cũng có lúc cái thù sẽ được đổi lại bằng cái thù như câu “an eye for an eye, a tooth for a tooth” người ta hay nói.

Một ký giả người Hoa sau những ngày theo dõi cuộc thiên tai do sống thần mang đến vùng Đông Bắc Nhật Bản 2 năm trước đây có phát biểu một niềm cảm kích từ đáy lòng là: “50 năm nữa , kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ đứng đầu thế giới, nhưng vĩnh viễn Trung Quốc không thể được gọi là cường quốc vì 50 năm nữa người Trung Quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức đạo đức công dân cao như người Nhật hiện tại. Tôi hổ thẹn mình là con cháu của Khổng Tử nhưng không hiểu cái đạo Nhân Nghĩa làm người bằng họ” khi ông nhìn thấy sự thanh khiết không tham lam không ích kỷ của người Nhật  trong lúc bức bách khốn cùng nhất của cuộc đời (9).

Thì ra đạo đức là cái khó bồi dưỡng hơn kinh tế, khoa học và kỷ thuật. Người nào khao khát về nó mới thấy được sự thật phũ phàng nầy. Mèn đét ơi…người  ta làm cách mạng đã hơn nửa thế kỷ rồi mà chưa đủ đạo đức để sống với nhau sao? – Tiếc thay tiếc thay!

Nhàn sĩ Huỳnh Văn Ba – February 7, 2013

Chú thích:

(1) Gapsin coup – 1884 – cuộc đảo chánh do nhóm nhân sĩ cầu tiến thân Nhật của nhà Lý Thị (Triều Tiên) đứng lên lật đỗ triều đình. Họ liền bị quân Thanh trú đóng đè bẹp trong 3 ngày. Nhà cửa kiều dân Nhật ở Triều Tiên cũng bị đốt phá, công sứ  Nhật bị tấn công.

(2) Người Nhật gọi nó là “kurofune” (黒舟) tức là “tàu đen” vì tàu sơn đen  và chạy bằng máy hơi nước. Thời đó (1853) tàu đi biển của Mỹ chỉ có vài ba trăm tấn thôi.

(3) Xin tham khảo thêm:”清国北洋艦隊来航とその影響” – 朝井佐智子  qua link:http://www2.aasa.ac.jp/graduate/gsscs/reports01/PDF/04-005.pdf

(4) Người sáng lập trường đại học Keio – xin xem thêm “Nước Nhựt Bổn – 30 Năm Duy Tân” của cụ Đào Trinh Nhất xuất bản năm 1936 được trang ERCT đăng lại rất đầy đủ qua link: http://www.erct.com/2-ThoVan/0-Nhật BảnDuyTan/00-Mucluc.htm

(5) là đại tướng quan tư lịnh hải quân trong cuộc hải chiến với hạm đội Nga –  về sau được người Tây phương gọi là “Nelson của Á Đông”)

(6) theo phim “Saka no ue no kumo” – NHK

(7) Khi có dịp nói chuyện với người Tàu Đài Loan thì họ không có vẻ quá khích đến thế. Còn đối với người Tàu Tân Gia Ba thì họ cho là hành động của TQ là “ridiculous”.

(8)  Sự thật đa số người Trung Cộng đã đánh mất tôn giáo trong nửa thế kỷ vừa qua.

(9)  Ký giả của Hoàn Cầu Thời Báo Trung Quốc Vương Hy Văn  – theo bài “Một lá thư từ Nhật Bản” của Hà Minh Thành đăng trên “ERCT.com” trước đây (http://www.erct.com/1-TinTuc/Japan-2011/MotlathutuNhatBan.htm)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s